Designed and built with care, filled with creative elements

Top
Image Alt

Bệnh xương khớp

1. Viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh viêm đặc hiệu xảy ra ở các khớp gây tổn thương màng hoạt dịch, sụn khớp và đầu xương dưới sụn, diễn biến mạn tính dẫn đến tình trạng dính và biến dạng khớp. Viêm khớp dạng thấp không có biểu hiện viêm khớp và sự có mặt của yếu tố dạng thấp trong máu. Đây là một trong các bệnh khớp viêm mạn tính thường gặp nhất ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới, chiếm khoảng 0,5-2 % dân số. Viêm khớp dạng thấp là bệnh tự miễn khá điển hình ở người, dưới dạng viêm mãn tính ở nhiều khớp ngoại biên với biểu hiện khá đặc trưng: sưng, đau khớp, cứng khớp buổi sáng và đối xứng hai bên. Ngoài ra, còn có các biểu hiện toàn thân (mệt mỏi, xanh xao, sốt gầy sút…) và tổn thương các cơ quan khác trên cơ thể.

Nguyên nhân của bệnh viêm khớp

Nguyên nhân của bệnh vẫn còn chưa được hiểu biết đầy đủ. Gần đây người ta cho rằng Viêm khớp dạng thấp là một bệnh tự miễn, với sự tham gia của các yếu tố sau:

  • Tác nhân gây bệnh: có thể là virus, vi khuẩn, dị nguyên nhưng chưa được xác định chắc chắn.
  • Yếu tố cơ địa: bệnh có liên quan rõ rệt đến giới tính (70-80% bệnh nhân là nữ) và tuổi (60-70% gặp ở người trên 30 tuổi).
  • Yếu tố di truyền: Viêm khớp dạng thấp có tính gia đình, có liên quan với kháng nguyên hóa hợp tổ chức HLA DR4 (gặp 60-70% bệnh nhân có yếu tố này, trong khi tỷ lệ này ở cộng đồng chỉ là 30%).
  • Các yếu tố thuận lợi khác: môi trường sống ẩm thấp, cơ thể suy yếu mệt mỏi, nhiễm lạnh, phẫu thuật.
BenhViemKhop-Hinh1
Giai đoạn khởi phát

Bệnh thường khởi phát từ từ, tăng dần, chỉ khoảng 10-15% bệnh bắt đầu đột ngột và cấp tính. Trước khi có triệu chứng của khớp, bệnh nhân có thể có biểu hiện như sốt nhẹ, mệt mỏi, gầy sút, ra nhiều mồ hôi, tê các đầu chi. Giai đoạn này kéo dài vài tuần đến vài tháng rồi chuyển sang giai đoạn toàn phát.

Giai đoạn toàn phát

Thường xuất hiện viêm đau nhiều khớp (nên còn gọi là bệnh viêm đa khớp dạng thấp). Trong đó hay gặp nhất là các khớp cổ tay (90%), khớp ngón gần bàn tay (80%), khớp bàn ngón (70%), khớp gối (90%), khớp cổ chân (70%), khớp ngón chân (60%), khớp khuỷu (60%). Các khớp ít gặp như: khớp háng, cột sống, khớp vai, khớp ức đòn, nếu có viêm các khớp này cũng thường là ở giai đoạn muộn.

Tiêu chuẩn của hội thấp khớp Mỹ ACR (American College of Rheumatology) – 1958

Gồm 11 tiêu chuẩn, trong đó có 6 tiêu chuẩn lâm sàng và 5 tiêu chuẩn cận lâm sàng:

  1. Có cứng khớp buổi sáng.
  2. Đau khi khám hoặc khi vận động từ 1 khớp trở lên.
  3. Sưng tối thiểu 1 khớp trở lên.
  4. Sưng nhiều khớp thì khớp sưng sau cách khớp sưng trước dưới 3 tháng.
  5. Sưng khớp có tính chất đối xứng 2 bên.
  6. Có hạt dưới da.
  7. X quang có khuyết đầu xương, hẹp khe khớp.
  8. Phản ứng Waaler Rose hoặc gama latex (+) ít nhất 2 lần.
  9. Lượng mucin trong dịch khớp giảm rõ.
  10. Sinh thiết hạt dưới da thấy tổn thương điển hình.
  11. Sinh thiết màng hoạt dịch thấy 3 tổn thương trở lên.

 

Chẩn đoán chắc chắn khi có 7 tiểu chuẩn trở lên và thời gian bị bệnh trên 6 tuần. Chẩn đoán xác định khi có 5 tiểu chuẩn trở lên và thời gian bị bệnh trên 6 tuần. Chẩn đoán nghi ngờ khi có 4 tiểu chuẩn và thời gian bị bệnh 4 tuần.

  1. Cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 1 giờ.
  2. Sưng đau kéo dài tối thiểu 3 khớp trong số 14 khớp sau: ngón tay gần (2), bàn ngón (2), cổ tay (2), khuỷu (2), gối (2), cổ chân (2), bàn ngón chân (2).
  3. Sưng đau một trong 3 vị trí: khớp ngón tay gần, khớp bàn ngón, khớp cổ tay.
  4. Sưng khớp đối xứng.
  5. Có hạt dưới da.
  6. Phản ứng tìm yếu tố dạng thấp (+).
  7. Hình ảnh X quang điển hình.

Chẩn đoán xác định khi có 4 tiêu chuẩn trở lên.

Do thiếu các phương tiện chẩn đoán cần thiết, nên chẩn đoán xác định dựa vào các yếu tố sau:

  1. Nữ tuổi trung niên.
  2. Viêm các khớp nhỏ ở hai bàn tay, phối hợp với các khớp gối, cổ chân, khuỷu.
  3. Đối xứng.
  4. Có dấu hiệu cứng khớp buổi sáng.
  5. Diễn biến trên 2 tháng.

Nguyên tắc chung

  • Viêm khớp dạng thấp là bệnh mạn tính kéo dài hàng chục năm, đòi hỏi quá trình điều trị phải kiên trì, liên tục có khi đến hết cả đời.
  • Điều trị phải kết hợp chặt chẽ giữa nội khoa, lý liệu phục hồi chức năng và ngoại khoa.
  • Thời gian điều trị chia làm nhiều giai đoạn nội trú, ngoại trú và điều dưỡng.
  • Trong quá trình điều trị cần theo dõi chặt chễ diễn biến của bệnh và các tai biến biến chứng có thể xảy ra.

2. Thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp có biểu hiện lâm sàng bởi đau khớp và cột sống mạn tính, không có biểu hiện viêm. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa của sụn khớp và đĩa đệm, những thay đổi ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch. Nguyên nhân chính của bệnh là quá trình lão hóa và tình trạng chịu áp lực quá tải và kéo dài của sụn khớp.

Sự lão hóa

Ở người trưởng thành các tế bào sụn không có khả năng sinh sản và tái tạo, mặt khác khi người ta già đi, cùng với sự lão hóa của cơ thể, các tế bào sụn cũng dần dần giảm chức năng tổng hợp chất tạo nên sợi colagen và mucopolysacarit, làm cho chất lượng sụn kém dần nhất là tính đàn hồi và chịu lực.

Yếu tố cơ giới

Là yếu tố quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình thoái hóa nhất là thể thoái hóa thứ phát, thể hiện bằng sự tăng bất thường lực nén trên một đơn vị diện tích của mặt khớp và đĩa đệm, còn được gọi là hiện tượng quá tải, bao gồm:

  • Các dị dạng bẩm sinh làm thay đổi diện tỳ nén bình thường của khớp và cột sống.
  • Các biến dạng thứ phát sau chấn thương, u, loạn sản, làm thay đổi mối tương quan, hình thái của khớp và cột sống.
  • Sự tăng tải trọng do tăng cân quá mức như béo phì, tăng tải trọng do nghề nghiệp…

Các yếu tố khác

  • Di truyền: cơ địa già sớm.
  • Nội tiết: tuổi mãn kinh, đái tháo đường, loãng xương do nội tiết.
  • Chuyển hóa: bệnh gout, bệnh da sạm màu nâu.
Đau khớp

Đau theo kiểu cơ giới, tức là đau khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi.

  • Vị trí: thường đau đối xứng hai bên, đau khu trú ở khớp hay đoạn cột sống bị thoái hóa ít lan xa, trừ khi có chèn ép vào rễ dây thần kinh.
  • Tính chất: đau âm ỉ, có khi thành cơn đau cấp sau khi vận động ở tư thế bất lợi, đau nhiều về buổi chiều, giảm đau về đêm và sáng sớm.
  • Đau diễn biến thành từng đợt, có khi diễn biến đau liên tục tăng dần.
  • Đau không kèm theo các biểu hiện viêm.
Biến dạng khớp

Thường không biến dạng nhiều như trong các bệnh khớp khác, biến dạng trong khớp do mọc gai xương, do lệch trục khớp hoặc thoát vị màng hoạt dịch.

Hạn chế vận động

Các khớp và cột sống bị thoái hóa sẽ bị hạn chế vận động một phần, có khi hạn chế nhiều do phản xạ co cứng cơ kèm theo. Bệnh nhân có thể không làm được một số động tác như không quay được cổ, không cúi được sát đất, một số bệnh nhân có dấu hiệu phá gỉ khớp.

X quang

Có 3 dấu hiệu cơ bản:

  • Hẹp khe khớp.
  • Đặc xương dưới sụn
  • Gai xương.
Nguyên tắc chung
  • Làm giảm triệu chứng đau.
  • Duy trì, hoặc điều trị phục hồi chức năng của các khớp.
  • Hạn chế sự tàn phế.
  • Tránh các tác dụng độc do dùng thuốc.

3. Dùng Turmeric Max điều trị viêm khớp như thế nào?

Viêm xương khớp tăng nặng ra sao?

Mô sụn trong tất cả các khớp “xoay” để đảm bảo chức năng tối ưu của nó. Quá trình này đòi hỏi một sự cân bằng kiểm soát chặt chẽ sự tổng hợp và thoái hóa sụn, thông qua các enzym giải phóng bởi các tế bào sụn. Một phản ứng viêm gây ra bởi một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ thúc đẩy sự mất cân bằng của các enzym trong thoái hóa [2,3].
Theo thời gian, kích hoạt lâu dài yếu tố nhân κB (NF-κB) và protein hoạt hóa 1 (AP-1) con đường dẫn đến viêm (thông qua prostaglandins (PGs) và leukotrienes (LTs)), cùng với sự căng thẳng oxy hóa, thúc đẩy sự phân hủy của sụn qua matrix metalloproteinases (MMPs), dẫn đến ma sát xương…. Và viêm [2,3]. Điều này tạo ra vòng lặp “phản hồi dương tính” và làm tăng tốc độ phát triển của bệnh viêm xương khớp (Hình 1). Để bệnh nhân bị viêm xương khớp, biểu hiện như suy giảm nghiêm trọng vận động khớp, sưng và đau.

Phương pháp can thiệp

Mục tiêu chính của bất kỳ điều trị viêm khớp đều là hai vấn đề: 1) sửa chữa và bảo vệ sụn bị phá hủy và 2) giảm viêm, sưng và đau. Phổ biến nhất là thuốc không steroid chống viêm (NSAID), được chứng minh lâm sàng, hiệu quả – chi phí và là thuốc không cần kê toa có sẵn. Tuy nhiên, sử dụng lâu dài NSAIDs có thể dẫn đến các biến chứng đường tiêu hóa (GI) và tim mạch. Phương pháp điều trị khác bao gồm giảm cân nếu bệnh nhân đang bị thừa cân hoặc béo phì, và duy trì hoạt động thể chất. Quan niệm sai lầm rằng tập thể dục là có hại cho sức khỏe chung là một quan niệm phổ biến. Các bài tập để duy trì sức mạnh và tăng sức chịu đựng thực sự thúc đẩy tái tạo khớp và tăng khối lượng cơ bắp do đó tăng cường sự ổn định chung, giúp làm giảm đau toàn diện. Phương pháp điều trị tự nhiên cũng là một cách thay thế để hỗ trợ trong việc sửa chữa và bảo vệ sụn và nơi viêm trong viêm xương khớp nhẹ. Turmeric Max chứa Meriva®, là chế phẩm curcuminoid được cấp bằng sáng chế đã được chứng minh giúp cải thiện đáng kể các chỉ tiêu lâm sàng ở các bệnh nhân bị viêm xương khớp. Turmeric Max cũng có chứa chiết xuất từ các loại thảo mộc Harpagophytum procumbens, Boswellia serrata, Apium graveolens Zingiber ofcinale, tất cả các thảo dược này đã được sử dụng từ lâu đời trong y học cổ truyền để kiểm soát các triệu chứng liên quan đến đau nhức khớp. Nhìn chung, Turmeric Max có thể hữu ích trong điều trị viêm xương khớp.

Để biết thêm thông tin các bạn có thể đọc thêm tại đây.

Gọi ngay

0929-118-118

0962-118-118