Designed and built with care, filled with creative elements

Top
Image Alt

Điều trị bằng Turmeric Max

Các thành phần có trong Turmeric Max

1. Meriva® Curcumin từ Nghệ

Curcumin là dạng chủ yếu của ba curcuminoids, đó là những hợp chất phenolic hoạt động được tìm thấy trong củ Nghệ (Curcuma longa) loại cây đã biết tới lâu năm. Curcumin (là một thành phần trong rễ củ Nghệ) đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ trong y học cổ truyền Trung Quốc và trong y học Ayurvedic để kháng viêm, giảm đau và cũng như để hỗ trợ chữa lành vết thương. Thêm bằng chứng đương đại kể từ giữa thế kỷ 20 đã chứng minh giá trị lâm sàng tiềm năng của curcumin khi được phân lập, nó đã làm dấy lên sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng khoa học và y tế. Ngày nay, curcumin đã được chứng minh là có hiệu quả trong các bệnh mãn tính như các bệnh viêm, các bệnh cơ xương (bao gồm cả viêm xương khớp), ung thư, rối loạn thần kinh, bệnh phổi, rối loạn chức năng gan và bệnh tim mạch [4].

Sinh khả dụng của Curcumin: Thách thức lâm sàng

Một trong những hạn chế lớn đối với việc sử dụng lâm sàng của curcumin là sinh khả dụng và độ ổn định dạng tự nhiên của nó là rất thấp [5]. Curcumin không hòa tan trong nước và dung môi thân nước. Indena® là một cách để khắc phục vấn đề này, Indena® là dạng curcumin được kết hợp thành một phức hợp phospholipid gọi là Meriva®, sử dụng công nghệ Phytosome® đã được cấp bằng sáng chế. Meriva® đã được chứng minh được hấp thu tốt hơn dạng tự nhiên [6]. Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, cắt ngang tiến hành ở 9 tình nguyện viên khỏe mạnh cho thấy sự hấp thu của curcumin cao hơn 18 lần và 29 lần ở tổng hợp curcuminoids từ Meriva® so với hỗn hợp curcuminoid dạng không công thức (dạng tự nhiên) [6] .

Cơ chế tác dụng

Các đánh giá gần đây [7-9] đã nhấn mạnh rằng curcumin có tác dụng chống viêm và chống oxy hóa trong nhiều bệnh khác nhau (Hình 1). Các nghiên cứu in vitro và in vivo đã tiết lộ rằng curcumin có thể ức chế các thành phần của con đường gây viêm NF-κB bao gồm các cytokin yếu tố hoại tử khối u-α (TNF-α) và các interleukins (ILS) cũng như cyclooxygenase-2 (COX-2) và prostaglandin (PGs) [7-9].

Đồng thời, curcumin có thể kích hoạt nhiều hệ thống phòng thủ chống oxy hóa tế bào nội sinh qua con đường Nrf2, bao gồm các con đường glutathione, superoxide dismutase (SOD) và heme oxygenase-1 (HMOX-1), làm tăng cường khả năng thu dọn các gốc oxy phản ứng (ROS) và các gốc nitơ phản ứng (RNS), ngăn chặn tình trạng viêm. Trong bệnh viêm xương khớp, curcumin ngăn chặn việc giải phóng các enzyme của tế bào sụn (enzyme trong đáp ứng với các chất trung gian gây viêm, ROS và RNS), các enzyme này gây hủy hoại chất cơ bản ngoại bào của sụn và mô khớp, làm tăng tốc độ phát triển của viêm xương khớp [8].

Hình 1: Cơ chế tác dụng của Curcumin. Curcumin kích thích hệ thống chống oxy hóa (Antioxidants) tế bào cũng như ức chế các gốc oxy phản ứng và các gốc nitơ phản ứng (ROS & RNS) và các chất trung gian gây viêm, đặc biệt là TNF-α, NF-κB và ILS. Hơn nữa, do sự kích thích của các hệ thống chống oxy hóa tế bào, điều này cũng làm giảm hơn nữa ROS, RNS và triệu chứng viêm (inflammation). Dữ liệu thu được từ tài liệu tham khảo [7-9].

Bằng chứng

Đã có nhiều nghiên cứu lâm sàng được tiến hành để chứng minh tác dụng của Meriva® curcumin trên sức khỏe xương khớp và cơ bắp [10-13], kể cả trong điều trị viêm xương khớp. Nghiên cứu đầu tiên tiến hành trên 50 bệnh nhân bị viêm xương khớp ở đầu gối (một bên hoặc cả hai bên, xác định qua hình ảnh X-quang) hoặc được nhận “dịch vụ chăm sóc tốt nhất” hoặc được kết hợp chung với Meriva® curcumin (1g/ngày, tương ứng với 200 mg curcumin hàng ngày) trong 3 tháng [10]. Kết quả cho thấy Meriva® làm giảm đáng kể cơn đau và cứng khớp, và cải thiện các chức năng vật lý của bệnh nhân (tất cả P <0,05, so với ban đầu), được xác định bởi bộ câu hỏi chỉ số viêm xương khớp “Western Ontario and McMaster Universities Osteoarthritis Index”  WOMAC) [10]. Các cải thiện này đã không xuất hiện ở những người chỉ nhận “dịch vụ chăm sóc tốt nhất” [10]. Các tác giả của nghiên cứu này sau đó đã theo dõi đánh giá một nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn (n = 100), thời gian dài hơn (8 tháng), sử dụng các thông số đánh giá tương tự như đối với viêm khớp gối [11]. Ngoài ý nghĩa cải tiến trong điểm số WOMAC như báo cáo trước [10], kết quả còn cho thấy dùng Meriva® curcumin (1g) hàng ngày trong 8 tháng giúp cải thiện đáng kể hoạt động thể chất. Khoảng cách trung bình mà bệnh nhân có thể đi được mà không đau sau khi điều trị là lớn hơn gấp 3,87 lần ở bệnh nhân dùng Meriva® so với những bệnh nhân chỉ nhận được “dịch vụ chăm sóc tốt nhất có sẵn” (Hình 2) [11].

Hình 2: Khoảng cách đi bộ của bệnh nhân trước và sau khi điều trị. Sau 8 tháng điều trị Meriva® (1g/ngày), khoảng cách đi bộ ở bệnh nhân dùng Meriva gấp 3,87 lần so với những bệnh nhân chỉ được “chăm sóc tốt nhất có sẵn” (nhóm chứng). Các cột đại diện cho khoảng cách đi bộ trung bình. * P <0,05 so với ban đầu, † P lt;0,05 so với nhóm đối chứng sau khi điều trị. Dữ liệu thu được từ nghiên cứu của Belcaro và cộng sự 2010 [11].

Quan trọng hơn, Belcaro và cộng sự [11] đã chỉ ra rằng curcumin Meriva® làm giảm đáng kể các chất chỉ dấu viêm về mức ban đầu (P <0,05), cải thiện này không quan sát thấy ở những bệnh nhân chăm sóc chuẩn, hỗ trợ thêm cho hoạt tính chống viêm của curcumin.

Cuối cùng, việc duy trì sức mạnh cơ bắp để hỗ trợ khả năng vận động của khớp và gia tăng sự ổn định của chúng (do đó làm giảm đau) cũng là một chiến lược quan trọng để cải thiện chức năng vật lý cho những người bị viêm xương khớp. Một nghiên cứu gần đây đã báo cáo rằng bổ sung curcumin Meriva ® hàng ngày trong 3 tháng (1g/ngày) trong một nhóm các bệnh nhân cao tuổi (n = 86; Tuổi> 65 tuổi), giúp giữ vững đáng kể khối lượng cơ bắp, tăng hoạt động thể chất và cải thiện chức năng tim mạch, khi so sánh với giá trị ban đầu (P <0,05) [13]. Những cải tiến  hông được tìm thấy ở những bệnh nhân đã thực hiện chế độ tập thể dục và chế độ ăn uống không bổ sung curcumin [13]. Tác dụng có lợi của Meriva® curcumin trong nghiên cứu này có khả năng là do hoạt tính chống oxy hóa của nó [13]. Tóm lại, những kết quả lâm sàng chứng minh rằng dùng 1g Meriva® curcumin/ngày (2 viên Turmeric Max hàng ngày), có thể có tác động đáng kể đến sức khỏe tổng thể của bệnh nhân viêm xương khớp nhẹ, bằng cách làm giảm đau, làm chậm quá trình viêm và hỗ trợ vận động khớp linh hoạt hơn.

2. Harpagophytum procumbens (Cây Móng quỷ)

Harpagophytum procumbens, thường được gọi là “ Devil’s claw – Móng quỷ “, là một loại thảo dược lâu năm có nguồn gốc ở sa mạc Kalahari. Tên gọi như vậy do củ của nó có những chỗ lồi lõm như hình móng quỷ [14], cây Móng quỷ được sử dụng rộng rãi như một loại thuốc truyền thống ở Nam Phi cho rối loạn tiêu hóa và giảm đau [15]. Chúng đã được công nhận như là một liệu pháp trị liệu tiềm năng từ những năm đầu thế kỷ 20 và hiện nay được sử dụng như một liệu pháp bổ sung trong nhiều bệnh bao gồm đau cơ, viêm khớp dạng thấp và viêm xương khớp [14].

Các thành phần hoạt tính

Đã có một vài thành phần được phân lập từ củ của cây Móng quỷ bao gồm Iridoids, harpagoquinones, axit amin, flavonoid, phytosterol và carbohydrate [16]. Các hợp chất glycoside iridoid (chiếm khoảng 3% cây) bao gồm harpagoside, procumbide, harpagide và 8-para-coumaroyl-harpagide [14]. Harpagoside được coi là thành phần hoạt tính của cây Móng quỷ [16].

Cơ chế tác dụng

Bằng chứng từ các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy rằng harpasogide có hoạt tính chống viêm thông qua điều hòa con đường tiền viêm AP-1. Ví dụ, một nghiên cứu đã chứng minh rằng chiết xuất Móng quỷ ức chế con đường tín hiệu AP-1 trong các bạch cầu đơn nhân chuột và người cô lập, kết quả là làm giảm đáng kể và phụ thuộc liều sự giải phóng TNF-α, IL-6, IL-1β và PGE2, cũng như ức chế COX-2 [17]. Gần đây, một nghiên cứu khác cho thấy harpagoside có thể ức chế con đường AP-1 trong tế bào sụn được phân lập từ các bệnh nhân bị viêm xương khớp [18]. ơn nữa, bằng chứng này cũng chứng minh rằng harpagoside ức chế MMPs [18] và thúc đẩy sự biểu hiện của các chất ức chế metalloproteases ở mô (TIMPs) [19], cáimà giúp đỡ khôi phục chu kỳ thoái hóa sinh lý chất cơ bản của sụn, do đó hỗ trợ chức năng khớp bình thường.

Bằng chứng

Cây Móng quỷ có tác dụng chống viêm và giảm đau ở những bệnh nhân viêm xương khớp trên lâm sàng (đánh giá trong các tài liệu [20, 21]). Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm (n = 122) đã chứng minh rằng dùng 6 viên nang Harpadol® mỗi ngày trong 4 tháng (cung cấp 435 mg bột Móng quỷ mỗi viên, tương ứng với 9,5 mg harpagoside) đạt hiệu quả như  chăm sóc tiêu chuẩn (Diacerhein; 100 mg/ ngày) đối với bệnh nhân viêm xương khớp, mặc dù độ an toàn của Harpadol® là vượt trội hơn [22]. Quan trọng hơn, Harpadol® làm giảm đáng kể (P <0,01) yêu cầu dùng NSAIDs cho bệnh nhân khi so sánh với những người được điều trị bằng chăm sóc tiêu chuẩn [22]. Một thử nghiệm lâm sàng, đa trung tâm tiến hành trên 75 bệnh nhân viêm xương khớp gối hoặc hông, 3 viên Doloteffin™ được tiêm hai lần mỗi ngày (tổng cộng 50mg/ngày harpagoside) trong 12 tuần [23]. Các bệnh nhân cải thiện từ các phép đo cơ bản, bao gồm giảm trong cảm nhận đau, độ cứng và chức năng vật lý tới 23,8%, 22,2% và 23,1% tương ứng, như được xác định bởi điểm số WOMAC [23]. (Xem Hình 3)

Một nghiên cứu mở được tiến hành tại Vương quốc Anh (n = 259) báo cáo rằng dùng chiết xuất Móng quỷ trong 8 tuần giúp cải thiện đáng kể điểm số đau tổng thể, độ cứng và chức năng vật lý (P <0,0001 so với ban đầu) ở những bệnh nhân

viêm khớp nói chung [24]. Điểm số WOMAC (đau, cứng và chức năng vật lý) cũng đã được cải thiện đáng kể ở các khớp đầu gối và hông (P <0,0001 so với ban đầu) [24]. Bệnh nhân cũng cho biết tăng đáng kể chất lượng cuộc sống thông qua bản khảo sát tự báo cáo (SF-12) [24].

Hình 3: Đánh giá 4 điểm cho các thông số liên quan đến xương khớp. Đau, Giới hạn vận động, sưng và điểm số bệnh tổng thể đều giảm trong quá trình nghiên cứu so với ban đầu. Bác sĩ ghi điểm mỗi thông số này, điểm 4 là quan trọng nhất. Dữ liệu lấy từ nghiên cứu của Wegener và cs 2003 [23].

3. Frankincense từ Boswellia serrata

Boswellia serrata, là loài cây trung bình lớn, mọc ở nơi khô ráo, miền núi khu vực của Ấn Độ, Bắc Phi và Trung Đông. Gôm nhựa dầu từ Boswellia được khai thác từ các thân cây và phần nhựa hóa rắn gọi là “trầm hương” [25]. Trầm hương được sử dụng truyền thống trong y học Ayurvedic với hoạt tính chống viêm khớp của nó, hỗ trợ tiêu hóa và các bệnh về da, các biến chứng tim mạch, bệnh đường hô hấp, nhiễm trùng và bệnh gan [25].

Các thành phần hoạt tính

Boswellic acid (BA), được tìm thấy trong nhựa nguyên chất, được cho là thành phần hoạt động chính của trầm hương [26]. BAs là một hỗn hợp của 2 α- và 4 β-pentacyclic triterpene acids chính; α-BA, α-acetyl-BA (α-ABA), β-BA, β-ABA, 11-keto-β-BA (KBA) and acetyl-11-keto-β-BA (AKBA) [27].

Cơ chế tác dụng

Trong lịch sử, KBA và AKBA được xem như là các BA có hoạt tính, ức chế sự hình thành của leukotrienes qua sự ức chế 5-lipooxygenase (5-LO) [26]. BAs có thể phát huy tác dụng dược lý trên các chất trung gian gây viêm chuyên biệt của hệ thống miễn dịch [28]. Ví dụ, AKBA đã được báo cáo là có tác dụng ức chế con đường tín hiệu NF-κB, cái mà dẫn đến một phản ứng viêm quá mức [28]. Thông qua hoạt động của nó trên NF-κB, AKBA cũng có tiềm năng ức chế các cytokine viêm TNF-α, IL-1, IL-2, IL-4, IL-6 và IFN-γ [28]. Bằng chứng gần đây hiện nay cho thấy β-BA cũng có thể ức chế sự sản xuất PGE2 [26]. Để hỗ trợ các cơ chế này, một nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng chiết xuất Boswellia serrata đã có tác dụng bảo vệ chuột bị gây viêm khớp thực nghiệm bằng cách ngăn chặn các phản ứng của hệ miễn dịch và cô lập các các chất trung gian gây stress oxy hóa [29].

Bằng chứng

Một đánh giá tổng quan hệ thống Cochrane gần đây đã phát hiện ra rằng Boswellia serrata có hiệu quả đáng kể trong việc giảm đau và cải thiện chức năng vật lý ở bệnh nhân viêm xương khớp [30]. Một phân tích meta cũng tiết lộ rằng Boswellia serrata giúp giảm đáng kể đau và cải thiện chức năng vật lý khi so sánh với giả dược (P <0,01) [31]. Mặc dù cần thiết có bằng chứng lâm sàng chất lượng cao hơn để khẳng định lại phát hiện này [31]. Trong một nghiên cứu ngẫu nhiêu, mù đôi, cắt ngang, có đối chứng với giả dược, người ta thấy rằng dùng chiết xuất nhựa Boswellia serrata 1g / ngày trong 8 tuần làm giảm đau, sưng và cải thiện lớn trong chức năng thể chất nhiều hơn so với giả dược, số liệu đều có ý nghĩa (P <0,001), ở một nhóm nhỏ các bệnh nhân (n = 15 cho mỗi nhóm) bị viêm khớp gối (Hình 4) [32]. Những người khác dùng 250 mg 5-Loxin® (chiết xuất nhựa Boswellia serrata, tương đương với 75 mg AKBA, tương tự BA trong viên Turmeric Max), khi dùng trong 90 ngày giúp cải thiện đáng kể triệu chứng đau, cứng và chức năng vật lý (P <0,05 so với ban đầu; điểm số WOMAC sub-scale) ở bệnh nhân viêm xương khớp gối nhẹ đến vừa [33]. Cuối cùng, khi bệnh nhân bị viêm xương khớp đầu gối nhẹ đến vừa dùng 100 mg/ngày Aflapin® (chiết xuất chuẩn hóa đến 20 mg AKBA, tương đương với khoảng một viên Turmeric Max) trong 30 ngày, liều lượng này đã thực sự đủ để cải thiện đáng kể điểm WOMAC về tê cứng, đau và chức năng vật lý ở bệnh nhân thử nghiệm [34]. Những cải thiện xuất hiện sớm nhất là 5 ngày sau khi bắt đầu điều trị [34].

Hình 4: Điểm số cường độ đau dạng nhìn, sưng và mất vận động. Cả hai nhóm 1 và nhóm 2 đều giảm đáng kể (P <0,001) đau, sưng và giảm sự mất vận động ở đầu gối sau khi điều trị với Boswellia serrata trong 8 tuần. Các cải thiện này không được quan sát thấy trên cả hai nhóm được điều trị bằng giả dược. Dữ liệu được biểu thị dưới dạng trung bình ± SD. Dữ liệu thu được từ nghiên cứu của Kimmatkar et al. 2003 [32].

4. Hạt Apium graveolens – Hạt Cần tây

Hạt Apium graveolens (Cần tây) từ lâu đã được sử dụng như là một thảo dược truyền thống ở Ấn Độ, Trung Quốc và châu Âu [35]. Nhiều phương pháp chữa trị dùng Cần tây đã được mô tả trong y học cổ truyền, nhưng thú vị nhất là những tác động có lợi của Cần tây trên bệnh gút và viêm khớp [35].

Các thành phần hoạt tính

Hạt Cần tây có chứa tinh dầu như limonene và selinene, chiếm khoảng 60% và 20% của phân đoạn tinh dầu tương ứng [36]. Hạt Cần tây cũng chứa các hợp chất flavonoid cũng như glucosides celeroside, glycosides phthalide, glucosides lignin và vòng thơm [35, 37].

Cơ chế tác dụng

Luteolin (một loại hợp chất flavonoid), được tìm thấy với nồng độ cao trong hạt Cần tây, đã được chứng minh là một chất chống viêm và chống oxy hóa [38] và có thể có lợi trong bệnh viêm xương khớp. Ví dụ, một số nghiên cứu đã chứng minh rằng luteolin có khả năng ức chế sự giải phóng các cytokine viêm như IL-6, thông qua ức chế con đường AP-1 cũng như ức chế hoạt động phiên mã NF-κB và sự biểu hiện COX-2 và PGE2 trong một số dòng tế bào khác nhau [39-42]. Ngoài ra, một nghiên cứu được tiến hành trên các mô hình chuột cắt giảm báo cáo viêm sưng chân và thâm nhiễm bạch cầu sau khi điều trị với luteolin qua COX-2 ức chế [43].

Bằng chứng

Như đã đề cập trước đó, các chế phẩm Cần tây đã được dùng lâu đời trong y học cổ truyền như một liệu pháp điều trị đau và viêm trong các bệnh cấp và mãn tính (bao gồm các bệnh viêm khớp) [35]. Trong nghiên cứu lâm sàng hiện đại, một nghiên cứu vừa tiết lộ rằng chiết xuất hạt Cần tây kết hợp với các loại thảo dược khác có thể làm giảm đáng kể các cơn đau, sưng và cải thiện sự hạn chế vận động (P <0,01) ở những bệnh nhân với viêm khớp gút, bằng cách ức chế xanthine oxidase, một chất trung gian của stress oxy hóa [44]. Các nghiên cứu được tiến hành trên các mô hình động vật bị viêm khớp cũng hỗ trợ cho tác dụng “chống viêm khớp” của chiết xuất hạt Cần tây. Al-Hindawi và cộng sự [45] thấy rằng chiết xuất Cần tây có tác dụng chống viêm và giảm phù nề chân gây ra bởi chất kích thích hóa học ở chuột. Một nghiên cứu khác sử dụng 2 mô hình chuột viêm khớp và một mô hình viêm bàn chân mãn tính (mà dẫn đến phản ứng xơ) đã chứng minh rằng chiết xuất hạt Cần tây có tác dụng hiệp đồng như một liệu pháp bổ sung cho liệu pháp điều trị chống viêm tiêu chuẩn, và cũng có thể làm giảm tác dụng phụ của chúng [46]. Nói chung, những phát hiện này chỉ ra rằng việc bổ sung các hạt Cần tây ở bệnh nhân viêm xương khớp có thể hỗ trợ vận động khớp thông qua giảm đau, giảm viêm và sưng.

5. Rễ Zingiber officinale – Củ Gừng

Zingiber officinale là một loại cây có củ, có nguồn gốc ở miền nam châu Á, nhưng hiện nay được trồng khắp vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Củ gừng là một trong những loại thuốc truyền thống lâu đời nhất và được sử dụng rộng rãi nhất ở Trung Quốc và các nền văn hóa Ấn Độ, đồng thời đã được ghi lại được sử dụng bởi những người Hy Lạp cổ đại, La Mã và người Ả Rập [47]. Gừng thường được sử dụng trong y học cổ truyền để giảm say tàu xe, buồn nôn, điều trị các rối loạn khó tiêu và / hoặc đầy hơi, kích thích sự ngon miệng cũng như điều trị các khó chịu hô hấp và viêm khớp (viêm khớp dạng thấp và viêm xương khớp) [48]. Bằng chứng khoa học hiện đại hướng về phía tác động chống viêm của gừng như một cơ chế để điều trị viêm xương khớp.

Các thành phần hoạt tính

Gừng có chứa một lượng lớn các thành phần khác nhau, nhưng mức độ chính xác của từng loại hoạt chất thực vật cơ bản phụ thuộc vào nguồn gốc của nó và dạng tươi hoặc khô [49]. Các
hoạt chất thực vật chính được tìm thấy trong cả gừng tươi và khô là các phenol (gingerol, shogaols, paradols), diarylheptanoids, gingerdiols và sesquiterpene [49, 50]. Những hoạt chất thực vật được cho là chịu trách nhiệm cho tác dụng chống viêm của rễ gừng [49, 50].

Cơ chế tác dụng

Một nghiên cứu lâm sàng tiến hành cách đây 20 năm đã đề xuất rằng gừng có tác dụng đối với bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp và rối loạn cơ xương bằng cách ngăn chặn sự hình thành các chất trung gian gây viêm, PGs và leukotrienes [51]. Cơ chế tác dụng chống viêm của chiết xuất từ rễ gừng thông qua làm giảm PGE2 và giảm nồng độ nitric oxide (NO) trong sụn lợn từ động vật có tuổi bị viêm xương khớp [52]. Chiết xuất từ gừng cũng ngăn chặn sự kích hoạt và biểu hiện của TNF-α, sản xuất PGE2 và COX-2, và ức chế hoạt tính NF-κB trong tế bào cytokine synoviocytes phân lập từ bệnh nhân viêm xương khớp [53]. Gần đây, người ta đã chứng minh rằng chiết xuất gừng cũng hiệu quả như betamethasone, ức chế sản xuất IL ở tế bào màng hoạt dịch khớp dạng nguyên bào sợi (fibroblast-like synoviocytes) bị cô lập từ các bệnh nhân bị viêm xương khớp và viêm khớp dạng thấp [54]. Những phát hiện này hỗ trợ làm rõ thêm các cơ chế chống viêm đề xuất của rễ gừng.

Bằng chứng

Do sự thiếu an toàn của các phương pháp điều trị viêm xương khớp thông thường, liệu pháp thay thế bổ sung như rễ gừng, (do sử dụng lâu đời trong y học truyền thống cho viêm xương khớp) đã là chủ đề của nhiều thử nghiệm lâm sàng. Phân tích meta và tổng quan hệ thống có xu hướng chỉ ra rằng gừng có thể có hiệu quả vừa phải trong việc cải thiện các triệu chứng [55, 56] và đau [57] liên quan với viêm xương khớp, tuy nhiên các đánh giá này nhấn mạnh mức độ không đồng nhất giữa các nghiên cứu lâm sàng riêng rẽ và cần thiết kế nghiên cứu lớn hơn và tốt hơn [55-57]. Tuy nhiên, các bằng chứng lâm sàng cho thấy rằng việc sử dụng gừng cho viêm xương khớp là dung nạp tốt khi dùng lâu dài và ít tác dụng phụ nghiêm trọng (chỉ có 1 số báo cáo là gừng gây khó chịu đường tiêu hóa nhẹ), so với các loại thuốc chống viêm không steroid (NSAID) có tác dụng phụ gây chảy máu tiêu hóa và các bệnh tim mạch khác có liên quan sau khi sử dụng kéo dài [55].

Altman và cộng sự [58], trong một thử nghiệm lâm sàng mù đôi, ngẫu nhiên trên 261 bệnh nhân bị viêm khớp gối từ trung bình đến nặng dùng Eurovita Extract 77 (EV.EXT 77; chiết xuất chứa 2,5-4 g thân rễ gừng; n = 124 ) hoặc giả dược (n = 123) trong 6 tuần. Họ đã thấy rằng “đau khi đứng” giảm đáng kể (P = 0,005) so với nhóm dùng giả dược [58]. Ngoài ra, bệnh nhân ở nhóm dùng chiết xuất gừng giảm đáng kể đau sau khi đi bộ khoảng 15m (P = 0,016; Hình 5), cải thiện điểm số WOMAC và sự gia tăng đáng kể tổng thể về điểm trạng thái tổng thể (P = 0,042), so với nhóm chứng [58].

Hình 5: Đau sau khi đi bộ trước (Baseline) và sau (Visit Final) điều trị. Điểm đau sau khi đi bộ là tương tự giữa các nhóm tại thời điểm ban đầu, tuy nhiên bệnh nhân nhận thấy gừng làm giảm đáng kể điểm số đau dạng nhìn (VAS) sau điều trị, so với điểm số nhóm dùng giả dược. Điểm dữ liệu đại diện cho nhóm có nghĩa là VAS tại lúc đầu và sau điều trị. * P <0,05 so với Placebo tại thời điểm sau điều trị. Dữ liệu lấy từ nghiên cứu của Altman và cs 2001 [58].

Trong một thử nghiệm mù đôi, cắt ngang, có đối chứng giả dược với số lượng người nghiên cứu ít hơn (n = 29) nhưng thời gian lâu hơn (~ 6 tháng) đã chứng minh rằng dùng chiết xuất gừng trong 3 tháng (250 mg; Zintona EC, Dalidar Pharma, Beer Sheva, Israel; 4 viên/ngày) cải thiện đáng kể số điểm đau dạng nhìn (VAS) so với giả dược (P <0,001), ở những bệnh nhân bị viêm xương khớp đầu gối [59]. Cuối cùng, một thử nghiệm lâm sàng bổ sung bột gừng (750 mg) cho thấy lợi ích gia tăng khi kết hợp với diclofenac (NSAID) (50 mg) trong khoảng thời gian 12 tuần, ở những bệnh nhân bị viêm xương khớp đầu gối (n = 60) [60]. Do đó, gừng có thể hữu ích trong điều trị đau và viêm ở bệnh nhân viêm xương khớp nhẹ.

Meriva® Curcumin liệu có hiệu quả hơn Chondroitin khi phối hợp với Glucosamine?

Sự kết hợp của chondroitin và glucosamin thường được chỉ định điều trị cho những người bị viêm xương khớp. Thật vậy, chondroitin và glucosamin có hiệu quả trong giảm các triệu chứng của viêm xương khớp [61]. Một nghiên cứu quan sát gần đây (n = 124) nhằm so sánh hiệu quả của kết hợp Meriva ® curcumin (500 mg/ngày) và glucosamine hydrochloride (Regenasure®; 500 mg /ngày) so với kết hợp chondroitin sulfate (400 mg) và glucosamine hydrochloride (415 mg), ở những bệnh nhân viêm khớp gối nhẹ đến trung bình trong 4 tháng [62]. Meriva® với glucosamine cải thiện đáng kể điểm số WOMAC cho đau, cứng và chức năng vật lý, khoảng cách đi bộ trên máy chạy bộ và điểm WOMAC xã hội/cảm xúc (P <0,05) khi so sánh với chondroitin / glucosamine [62]. Bệnh nhân trong nhóm Meriva®/glucosamine cũng sử dụng NSAIDs ít hơn, ít biến chứng hơn và giảm sưng sau khi kết thúc nghiên cứu, so với bệnh nhân trong nhóm chondroitin / glucosamine (P <0,05, Hình 6).

Hình 6: Các thuốc dùng kết hợp, biến chứng và Chăm sóc Y tế. Meriva® + Glucosamine giảm đáng kể nhu cầu các thuốc dùng kèm, biến chứng và sưng so với những người điều trị với chondroitin + glucosamine.

Nhìn chung, nghiên cứu này cho thấy rằng việc bổ sung Meriva® curcumin, chẳng hạn như Turmeric Max, một liệu pháp tự nhiên, cùng với glucosamine, có thể có một lợi ích hỗ trợ thêm cho bệnh nhân bị viêm xương khớp.

Kết luận

Turmeric Max là một sản phẩm độc đáo được bào chế dựa trên kiến thức y học cổ truyền và các bằng chứng khoa học hiện đại, được bào chế để hỗ trợ khớp xương khỏe mạnh và duy trì vận động thể chất ở những bệnh nhân bị viêm xương khớp. Turmeric Max có thể cũng giúp làm giảm đau nhức ở những người mắc các chứng viêm khớp khác. Turmeric Max chứa Meriva® curcumin, đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc cải thiện các triệu chứng của viêm xương khớp cũng như hỗ trợ duy trì khối lượng cơ bắp ở người lớn tuổi trong nhiều thử nghiệm lâm sàng, cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người bị viêm xương khớp. Quan trọng hơn, tất cả những lợi ích được báo cáo Meriva® curcumin đã được chứng minh ở một liều lượng tương đương sử dụng trong Turmeric Max. Các chất chiết xuất từ Harpagophytum procumbens, Boswellia serrata, Apium graveolens và Zingiber officinale làm tăng cường tác dụng chống viêm và giảm đau của Turmeric Max, phù hợp với việc sử dụng lâu dài trong hệ thống y học thảo dược truyền thống châu Á, châu Phi và / hoặc châu Âu để làm giảm các bệnh viêm khớp. Hơn nữa, Meriva® curcumin hỗ trợ có hiệu quả cho những người đã được uống bổ sung glucosamine. Do đó, Turmeric Max cung cấp một cách tiếp cận toàn diện để kiểm soát các bệnh viêm khớp cũng như an toàn hơn so với việc điều trị bằng một số loại thuốc tân dược khác.

Tài liệu tham khảo

  1. Roach, H.I. and S. Tilley, The Pathogenesis of Osteoarthritis, in Bone and Osteoarthritis, F. Bronner and M.C. Farach-Carson, Editors. 2007, Springer London: London. p. 1-18.
  2. Roach, H.I., et al., Pathobiology of Osteoarthritis: Pathomechanisms and Potential Therapeutic Targets. Current Drug Targets, 2007. 8(2): p. 271-282.
  3. Sokolove, J. and C.M. Lepus, Role of inflammation in the pathogenesis of osteoarthritis: latest findings and interpretations. Therapeutic Advances in Musculoskeletal Disease, 2013. 5(2): p. 77-94.
  4. Gupta, S.C., et al., Discovery of curcumin, a component of golden spice, and its miraculous biological activities. Clinical & Experimental Pharmacology & Physiology, 2012. 39(3): p. 283-299.
  5. Kidd, P.M., Bioavailability and activity of phytosome complexes from botanical polyphenols: the silymarin, curcumin, green tea, and grape seed extracts. Altern Med Rev, 2009. 14(3): p. 226-46.
  6. Cuomo, J., et al., Comparative Absorption of a Standardized Curcuminoid Mixture and Its Lecithin Formulation. Journal of Natural Products, 2011. 74(4): p. 664-669.
  7. Aggarwal, B.B., S.C. Gupta, and B. Sung, Curcumin: an orally bioavailable blocker of TNF and other proinflammatory biomarkers. British Journal of Pharmacology, 2013. 169(8): p. 1672-1692.
  8. Peddada, K.V., et al., Role of Curcumin in Common Musculoskeletal Disorders: a Review of Current Laboratory, Translational, and Clinical Data. Orthopaedic Surgery, 2015. 7(3): p. 222-231.
  9. Pulido-Moran, M., et al., Curcumin and Health. Molecules, 2016. 21(3): p. 264.
  10. Belcaro, G., et al., Product-evaluation registry of Meriva(R), a curcumin-phosphatidylcholine complex, for the complementary management of osteoarthritis. Panminerva Med, 2010. 52(2 Suppl 1): p. 55-62.
  11. Belcaro, G., et al., Efficacy and safety of Meriva(R), a curcumin-phosphatidylcholine complex, during extendedadministration in osteoarthritis patients. Altern Med Rev,  2010. 15(4): p. 337-44.
  12. Drobnic, F., et al., Reduction of delayed onset muscle soreness by a novel curcumin delivery system (Meriva(R)): a randomised, placebo-controlled trial. J Int Soc Sports Nutr, 2014. 11: p. 31.
  13. Franceschi, F., et al., A novel phospholipid delivery system of curcumin (Meriva(R)) preserves muscular mass in healthy aging subjects. Eur Rev Med Pharmacol Sci, 2016. 20(4): p. 762-6.
  14. Grant, L., et al., A review of the biological and potential therapeutic actions of Harpagophytum procumbens. Phytotherapy Research, 2007. 21(3): p. 199-209.
  15. Braun, L. and M. Cohen, Herbs & natural supplements: an evidence-based guide. 2nd Edition ed. 2007, Marrickville, N.S.W.: Elsevier Australia.
  16. Mncwangi, N., et al., Devil’s Claw—A review of the ethnobotany, phytochemistry and biological activity of Harpagophytum procumbens. Journal of Ethnopharmacology, 2012. 143(3): p. 755-771.
  17. Fiebich, B.L., et al., Molecular Targets of the Antiinflammatory Harpagophytum procumbens (Devil’s claw): Inhibition of TNFα and COX-2 Gene Expression by Preventing Activation of AP-1. Phytotherapy Research, 2012. 26(6): p. 806-811.
  18. Haseeb, A., M.Y. Ansari, and T.M. Haqqi, Harpagoside suppresses IL-6 expression in primary human osteoarthritis chondrocytes. Journal of Orthopaedic Research, 2016: p. n/a-n/a.
  19. Chrubasik, J.E., et al., Potential molecular basis of the chondroprotective effect of Harpagophytum procumbens. Phytomedicine, 2006. 13(8): p. 598-600.
  20. Denner, S.S., A Review of the Efficacy and Safety of Devil’s Claw for Pain Associated With Degenerative Musculoskeletal Diseases, Rheumatoid, and Osteoarthritis. Holistic Nursing Practice, 2007. 21(4): p. 203-207.
  21. Brien, S., G.T. Lewith, and G. McGregor, Devil’s Claw (Harpagophytum procumbens) as a Treatment for Osteoarthritis: A Review of Efficacy and Safety. The Journal of Alternative and Complementary Medicine, 2006. 12(10): p. 981-993.
  22. Chantre, P., et al., Efficacy and tolerance of Harpagophytum procumbens versus diacerhein in treatment of osteoarthritis. Phytomedicine, 2000. 7(3): p. 177-183.
  23. Wegener, T. and N.-P. Lüpke, Treatment of patients with arthrosis of hip or knee with an aqueous extract of Devil’s Claw (Harpagophytum procumbens DC.). Phytotherapy Research, 2003. 17(10): p. 1165-1172.
  24. Warnock, M., et al., Effectiveness and safety of Devil’s Claw tablets in patients with general rheumatic disorders. Phytotherapy Research, 2007. 21(12): p. 1228-1233.
  25. Siddiqui, M.Z., Boswellia serrata, a potential antiinflammatory agent: an overview. Indian J Pharm Sci, 2011. 73(3): p. 255-61.
  26. Abdel-Tawab, M., O. Werz, and M. Schubert-Zsilavecz, Boswellia serrata. Clinical Pharmacokinetics, 2011. 50(6):p. 349-369.
  27. Du, Z., et al., Prospects of Boswellic Acids as Potential Pharmaceutics. Planta Med, 2015. 81(04): p. 259-271.
  28. Ammon, H.P.T., Modulation of the immune system by Boswellia serrata extracts and boswellic acids. Phytomedicine, 2010. 17(11): p. 862-867.
  29. Umar, S., et al., Boswellia serrata extract attenuates inflammatory mediators and oxidative stress in collagen induced arthritis. Phytomedicine, 2014. 21(6): p. 847-856.
  30. Cameron, M. and S. Chrubasik Oral herbal therapies for treating osteoarthritis. Cochrane Database of Systematic Reviews, 2014. DOI: 10.1002/14651858.CD002947. pub2.
  31. Kessler, C.S., et al., Ayurvedic interventions for osteoarthritis: a systematic review and meta-analysis. Rheumatology International, 2015. 35(2): p. 211-232.
  32. Kimmatkar, N., et al., Efficacy and tolerability of Boswellia serrata extract in treatment of osteoarthritis of knee – A randomized double blind placebo controlled trial. Phytomedicine, 2003. 10(1): p. 3-7.
  33. Sengupta, K., et al., A double blind, randomized, placebo controlled study of the efficacy and safety of 5-Loxin® for treatment of osteoarthritis of the knee. Arthritis Research & Therapy, 2008. 10(4): p. 1-11.
  34. Vishal, A.A., A. Mishra, and S.P. Raychaudhuri, A double blind, randomized, placebo controlled clinical study evaluates the early efficacy of aflapin in subjects with osteoarthritis of knee. Int J Med Sci, 2011. 8(7): p. 615-22.
  35. Powanda, M.C., M.W. Whitehouse, and K.D. Rainsford, Celery Seed and Related Extracts with Antiarthritic, Antiulcer, and Antimicrobial Activities. Prog Drug Res, 2015. 70: p. 133-53.
  36. Sowbhagya, H.B., Chemistry, Technology, and Nutraceutical Functions of Celery (Apium graveolens L.): An Overview. Critical Reviews in Food Science and Nutrition, 2014. 54(3): p. 389-398.
  37. Lin, L.Z., S. Lu, and J.M. Harnly, Detection and quantification of glycosylated flavonoid malonates in celery, Chinese celery, and celery seed by LC-DAD-ESI/ MS. J Agric Food Chem, 2007. 55(4): p. 1321-6.
  38. Miguel, L.-L., Distribution and Biological Activities of the Flavonoid Luteolin. Mini-Reviews in Medicinal Chemistry, 2009. 9(1): p. 31-59.
  39. Jang, S., K.W. Kelley, and R.W. Johnson, Luteolin reduces IL-6 production in microglia by inhibiting JNK phosphorylation and activation of AP-1. Proceedings of the National Academy of Sciences, 2008. 105(21): p. 7534-7539.
  40. Kim, S.-H., et al., Luteolin inhibits the nuclear factor-κB transcriptional activity in Rat-1 fibroblasts. Biochemical Pharmacology, 2003. 66(6): p. 955-963.
  41. Park, C.M. and Y.-S. Song, Luteolin and luteolin-7-Oglucoside inhibit lipopolysaccharide-induced inflammatory responses through modulation of NF-κB/AP-1/PI3K-Akt signaling cascades in RAW 264.7 cells. Nutr Res Pract, 2013. 7(6): p. 423-429.
  42. Xagorari, A., et al., Luteolin Inhibits an Endotoxin-Stimulated Phosphorylation Cascade and Proinflammatory Cytokine Production in Macrophages. Journal of Pharmacology and Experimental Therapeutics, 2001. 296(1): p. 181-187.
  43. Ziyan, L., et al., Evaluation of the Anti-inflammatory Activity of Luteolin in Experimental Animal Models. Planta Med, 2007. 73(03): p. 221-226.
  44. Akram, M., et al., In vitro xanthine oxidase inhibitory and in vivo hypouricemic activity of herbal coded formulation (Gouticin). Pak J Pharm Sci, 2014. 27(3): p. 541-50.
  45. Al-Hindawi, M.K., et al., Anti-inflammatory activity of some Iraqi plants using intact rats. Journal of Ethnopharmacology, 1989. 26(2): p. 163-168.
  46. Whitehouse, M.W. and D.E. Butters, Combination antiinflammatory therapy: synergism in rats of NSAIDs/corticosteroids with some herbal/animal products. Inflammopharmacology, 2003.  1(4): p. 453-64.
  47. American Botanical Council, Ginger Root Monograph, in Herbal Medicine: Expanded Commission E Monographs. 2000, Integrative Medicine Communications Austin, TX, USA.
  48. Natural Medicines. Ginger. Professional Monographs 2016.
  49. Ali, B.H., et al., Some phytochemical, pharmacological and toxicological properties of ginger (Zingiber officinale Roscoe): A review of recent research. Food and Chemical Toxicology, 2008. 46(2): p. 409-420.
  50. Al-Nahain, A., R. Jahan, and M. Rahmatullah, Zingiber officinale: A Potential Plant against Rheumatoid Arthritis. Arthritis, 2014. 2014: p. 159089.
  51. Srivastava, K.C. and T. Mustafa, Ginger (Zingiber officinale) in rheumatism and musculoskeletal disorders. Medical Hypotheses, 1992. 39(4): p. 342-348.
  52. Shen, C.-L., K.-J. Hong, and S.W. Kim, Effects of Ginger (Zingiber officinale Rosc.) on Decreasing the Production of Inflammatory Mediators in Sow Osteoarthrotic Cartilage Explants. Journal of Medicinal Food, 2003. 6(4): p. 323-328.
  53. Frondoza, C.G., et al., An in vitro screening assay for inhibitors of proinflammatory mediators in herbal extracts using human synoviocyte cultures. In Vitro Cellular & Developmental Biology – Animal, 2004. 40(3): p. 95-101.
  54. Ribel-Madsen, S., et al., A Synoviocyte Model for Osteoarthritis and Rheumatoid Arthritis: Response to Ibuprofen, Betamethasone, and Ginger Extract—A Cross- Sectional In Vitro Study. Arthritis, 2012. 2012: p. 505842.
  55. Bartels, E.M., et al., Efficacy and safety of ginger in osteoarthritis patients: a meta-analysis of randomized placebo-controlled trials. Osteoarthritis and Cartilage, 2015. 23(1): p. 13-21.
  56. Leach, M.J. and S. Kumar, The clinical effectiveness of Ginger (Zingiber officinale) in adults with osteoarthritis. Int J Evid Based Healthc, 2008. 6(3): p. 311-20.
  57. Terry, R., et al., The Use of Ginger (Zingiber officinale) for the Treatment of Pain: A Systematic Review of Clinical Trials. Pain Medicine, 2011. 12(12): p. 1808-1818.
  58. Altman, R.D. and K.C. Marcussen, Effects of a ginger extract on knee pain in patients with osteoarthritis. Arthritis & Rheumatism, 2001. 44(11): p. 2531-2538.
  59. Wigler, I., et al., The effects of Zintona EC (a ginger extract) on symptomatic gonarthritis. Osteoarthritis and Cartilage, 2003. 11(11): p. 783-789.
  60. Paramdeep, G., Efficacy and tolerability of ginger (Zingiber officinale) in patients of osteoarthritis of knee. Indian J Physiol Pharmacol, 2013. 57(2): p. 177-83.
  61. Henrotin, Y. and C. Lambert, Chondroitin and Glucosamine in the Management of Osteoarthritis: An Update. Current Rheumatology Reports, 2013. 15(10): p. 1-9.
  62. Belcaro, G., et al., Meriva(R)+Glucosamine versus Condroitin+Glucosamine in patients with knee osteoarthritis: an observational study. Eur Rev Med Pharmacol Sci, 2014. 18(24): p. 3959-63.

Gọi ngay

0929-118-118

0962-118-118